Ước lượng đến hết tháng 6/2013, tăng trưởng vốn huy động lên tới 8,5% trong khi tăng trưởng tín dụng chỉ 4,5%. Bức tranh tiền tệ 6 tháng qua tương đối đẹp nếu nhìn vào các chỉ số lãi suất, thanh khoản liên nhà băng và tỷ lệ dùng vốn so với huy động.Nhưng Ngân hàng Nhà nước lại đang nát nước tìm cách tăng tín dụng một cách an toàn và ứng phó với bài toán gai góc “chênh lệch lãi suất đô - đồng”, nhằm tránh tỷ giá nổi sóng.Vốn tiếp kiến đọng Trên thị trường 1, mặt bằng lãi suất VND giảm rất mạnh do kinh tế hồi phục yếu, doanh nghiệp cần vốn giá rẻ hơn trong khi lạm phát được kiểm soát, thanh khoản hệ thống dồi dào, tăng trưởng tín dụng chậm chạp. Ở thị trường 2, lãi suất liên Ngân hàng cũng giảm rất mạnh và theo khuynh hướng đi ngang. Hai tháng đầu năm, lãi suất liên nhà băng kỳ hạn qua đêm đến 1 tuần giảm từ mức 6%/năm trong tháng 1/2013 xuống còn 2% - 2,5%/năm vào tháng 2/2013. Và từ đó đến hết tháng 6/2013, lãi suất tương đối ổn định ở mức thấp. Trong tháng 3 và 4/2013, lãi suất dao động quanh mức 2,5% - 4%/năm kỳ hạn qua đêm đến một tuần và giảm dần xuống mức thấp kỷ lục 1% - 1,5%/năm trong nửa cuối quý 2/2013. Đến nay, tình trạng dư thừa thanh khoản trên toàn hệ thống đã đến mức báo động đỏ: cung dồi dào, cầu vốn yếu; doanh số giao dịch giảm tới 80% so với cùng kỳ 2012, đạt bình quân 15 nghìn tỷ đồng/ngày. Ước tính đến hết tháng 6/2013, tăng trưởng vốn huy động lên tới 8,5% trong khi tăng trưởng tín dụng chỉ 4,5% và nếu loại bỏ phần đầu tư vào trái phiếu chính phủ mà chỉ tính cho vay doanh nghiệp và người dân thì con số kia còn thấp hơn rất nhiều. Nhà băng quốc gia sẽ ứng xử như thế nào? Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh dinh (BDI), phân tích: “Đợt vừa rồi, theo chỉ đạo của Quốc hội và Chính phủ, Ngân hàng Trung ương đã phải hè nhau giảm lãi suất và muốn thế thì phải tăng cung tiền. Theo nguyên lý, lãi suất VND giảm thì giá ngoại tệ tăng. Không ai có thể điều khiển thị trường theo ý mình mà chẳng tốn kém gì cả”. Theo ông, từ đầu năm đến nay, tỷ giá nổi sóng hai đợt, chính yếu là do lãi suất VND giảm nhanh, bên cạnh một số tác động khác, trong đó có kỳ vọng tâm lý. Theo quy định của nhà băng Trung ương, các nhà băng thương nghiệp được phép duy trì thể ngoại tệ bằng +/-20% vốn điều lệ. Tỉ dụ, vốn điều lệ của một nhà băng là 1.000 tỷ đồng thì thể ngoại tệ của họ là +/- 200 tỷ VND đã được quy đổi. Trước đây, khi lãi suất VND còn cao hơn so với lãi suất USD, nhà băng đã rút ngoại tệ ra bán, lấy VND để kinh dinh, chấp nhận thể ngoại tệ tối đa - 20%, ước lượng tới 1,2 tỷ USD. Nhưng nay, khi lãi suất hai đồng bạc trên gần nhau, đã xuất hiện khuynh hướng chuyển dịch tài sản sang ngoại tệ, đưa trạng thái ngoại tệ về + 20%. Thử hình dong, khi các nhà băng thương nghiệp đều làm như vậy thì họ đã ngốn một lượng ngoại tệ ước lượng tới 1,2 tỷ USD trong vòng vài tuần lễ và chỉ duy trì tổng dạng âm chỉ khoảng 100 triệu USD. Khi thể ngoại tệ trở về mức +20% vốn điều lệ thì vốn ngoại tệ trở thành dôi, buộc họ phải làm tiếp một động tác là gia tăng số dư tiền gửi ngoại tệ vượt dự trữ bắt ở nhà băng Trung ương. Đầu năm, con số vượt dự trữ buộc với ngoại tệ chỉ 350 triệu USD nhưng đến tháng 6/2013, lên tới 450 triệu USD. Tiếp đó, con số ngoại tệ mà các Ngân hàng thương nghiệp gửi ra nước ngoài cũng tăng từ 1 tỷ USD (quý 1/2013) lên 2,5 tỷ USD vào quý 2/2013 để trả nợ nước ngoài mà các nhà băng thương nghiệp đã vay. Thông thường, mỗi năm, các Ngân hàng thương mại trong nước vẫn vay ngắn hạn nước ngoài từ 5 - 7 tỷ USD. Còn với người dân thì sao? Cũng theo ông Nghĩa, tốc độ tăng tiền gửi ngoại tệ của dân cư đến tháng 6/2013 so với cuối năm 2012 tăng tới 15%! Đơn giản là họ đã mua ngoại tệ và gửi ngược vào nhà băng. Na ná, mức tăng tiền gửi ngoại tệ của doanh nghiệp cũng lên tới 9% so với cuối 2012. Thậm chí, nhiều doanh nghiệp còn tranh thủ trả trước nợ ngoại tệ vì e dè mai đây, nếu tỷ giá nhích lên chút xíu, đỡ bị thiệt. Câu hỏi: sắp tới đây, tỷ giá sẽ diễn biến như thế nào, liệu lãi suất còn biến động đến đâu, vững chắc sẽ còn nối đeo bám Ngân hàng quốc gia. Cũng theo ông Nghĩa, một điều gần như khó thay đổi là lãi suất khó có thể giảm thêm vì lạm phát đang dò đáy. Hơn nữa, sau phiên họp “G14” vừa qua, kiên cố nhà băng Trung ương sẽ siết chặt tiền tệ lại một tí vì vốn đang dư nhưng tín dụng không ra được. Tức thị, cung đã giảm mạnh theo cầu và có lẽ, từ tháng 9/2013 trở đi, giá cả sẽ có nhiều biến động. Lợi thế của nhà băng quốc gia là với hệ thống core banking quá đương đại, chỉ trong vòng một ngày, nhà băng Trung ương đã có ngay mọi số liệu bảng cân đối tài sản toàn ngành. Thế nên, họ sẽ có những dự báo sớm để hành động sớm, khác với trước đây, phải sau 3 - 6 tháng mới có thể lập được một bảng cân đối tài sản toàn ngành. Trước đây, Ngân hàng Trung ương mua vào 10 tỷ USD đã đẩy lạm phát từ 4,5% lên 21% mà không thể nào thăng bằng nổi. Nhưng nay, Ngân hàng Nhà nước mua tới 23 tỷ USD, nhưng lại làm được điều trái lại là lạm phát giảm từ 21% xuống 5 - 6%! Đạt được thành tựu này là nhờ vào hệ thống core banking cũng như nghệ thuật điều hành trong việc bơm hút tiền. “Mục tiêu của nhà băng Trung ương là chống lạm phát, ổn định giá trị đồng bạc. Nhưng trong bối cảnh hiện tại, Ngân hàng Trung ương phải thực thi chính sách tiền tệ đa mục tiêu: vừa ổn định giá cả, ổn định giá trị đồng tiền, vừa xúc tiến tăng trưởng và thậm chí cả xóa đói giảm nghèo, quốc phòng an ninh... Thì rất khó để đạt được nhiều mong muốn cùng thời điểm”, ông Nghĩa chốt lại. (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam) |
Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2013
Khổ vì vốn... dồi dào!
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét